UML, Use Case, Class Diagram, State Machine, Activity Diagram, Component, Deployment và Sequence Diagram được đưa lên sớm vì đây là bộ ngôn ngữ dùng để mô tả yêu cầu, luồng xử lý và cấu trúc hệ thống trước khi đi vào thiết kế chi tiết. Với vai trò Architect, khả năng đọc và viết sơ đồ là nền tảng để trao đổi với team và ra quyết định kỹ thuật.
SOLID, Strategy, Factory Method, Abstract Factory, Decorator, Composite, CoR, Facade, Mediator, Observer, Bridge, Singleton, State, Command, Adapter, Proxy, Hexagonal và các pattern liên quan được sắp theo hướng từ thiết kế lớp đến tổ chức kiến trúc. Cách học này hợp lý cho người có nền tảng OOP vì giúp nối từ code-level design sang system-level design.
Các chủ đề ACID, CAP, CRQS/CQRS, 2PC, SAGA, Event Storming, cache strategy, CAS, cache lines, TCP, UDP và 6 API protocols phản ánh đúng workflow của hệ thống phân tán: hiểu giới hạn dữ liệu, giao tiếp, đồng bộ trạng thái và xử lý giao dịch giữa nhiều service.
DDD được đặt ở giai đoạn cuối của curriculum để người học đã có nền về requirement, UML, pattern và distributed system trước khi đi vào domain modeling và thiết kế bounded context. Đây là thứ tự phù hợp nếu mục tiêu là thiết kế microservices có cấu trúc thay vì học DDD rời rạc.